Tuesday, June 29, 2010
Wednesday, May 19, 2010
Bất động sản bán
Hiện mình có mảnh đất tại Hòa Lạc cần bán hoặc hợp tác.
1/ TDT: 5,0 ha trong đó có đất ở, đất vườn và đất trồng cây ăn quả + lâm nghiệp.
Có thể làm sổ đỏ. Địa hình đẹp. tại xã Hoà Thạch, Quốc Oai, HN.
2/ Có 8 sào đất thổ cư tại xã Hoà Thạch. Mặt đường rộng, cách QL 21A 200m. Giá 380 triệu/1 sào. Chờ sổ đỏ.
LH: A Sơn 0904 501 503.
1/ TDT: 5,0 ha trong đó có đất ở, đất vườn và đất trồng cây ăn quả + lâm nghiệp.
Có thể làm sổ đỏ. Địa hình đẹp. tại xã Hoà Thạch, Quốc Oai, HN.
2/ Có 8 sào đất thổ cư tại xã Hoà Thạch. Mặt đường rộng, cách QL 21A 200m. Giá 380 triệu/1 sào. Chờ sổ đỏ.
LH: A Sơn 0904 501 503.
Tuesday, April 13, 2010
Những nẻo đường dẫn đến tự do tài chính

Ngày nay, của cải, tài sản không phải là thước đo sự giàu có của con người. Mức độ giàu có của bạn được tính bằng bằng thời gian!
Nếu bạn ngưng làm việc ngay hôm nay thì chuyện gì sẽ xảy cho tương lai của bạn? Khi điều này là sự thực, nhiều người sẽ chỉ sống được vài ngày hoặc vài tháng vì một điều đơn giản: họ thiếu tích lũy và không có những nguồn thu nhập mà không cần đến sức lao động của họ.
Nhiều người trong chúng ta có thói quen tiêu xài gần như hết nhẵn số tiền mình kiếm được – giống như Định luật Parkinson đã chỉ ra: Mức chi xài của bạn có xu hướng tăng tỉ lệ thuận với mức thu nhập. Thu nhập của bạn càng cao thì tiêu xài càng nhiều và số tiền tích lũy tiếp tục không thay đổi. Như vậy, người giàu thực sự theo cách nhìn mới không phải là người có nhiều của cải, tài sản bởi có những thứ tài sản vào thời điểm bạn muốn quy đổi ra tiền mặt thì giá trị của nó giảm xuống rất nhiều như xe hơi, ti vi, điện thoại và nhiều thứ khác trong bảng liệt kê tài sản của bạn. Ngay cả nhà cửa, đất đai vào thời điểm thị trường bất động sản tụt dốc thì giá trị của những của cải đó cũng sụt giảm tương tự!
Ngày nay, trên thế giới, giá trị các tài sản tích lũy (khi mua vào) của một người không còn là thước đo sự giàu có của họ. Các nhà tư vấn tài chính cá nhân nổi tiếng như Robert Kiyosaki – tác giả bộ sách Rich Dad, Poor Dad, David Bach – tác giả cuốn Automatic Millionaire hay Robert Allen – tác giả của Multiple Streams of Income đều cho rằng để đo lường mức độ giàu có của một người phải tính xem số ngày mà người đó duy trì được mức sống như mong muốn khi họ ngưng không làm việc nữa.
Vậy đâu là nguồn cung cấp cho chi tiêu của bạn trong giai đoạn này? Đó là những tài sản có tính thanh khoản cao như các loại chứng khoán, những nguồn thu nhập thụ động trong tương lai và những tài sản có thể bán để thu tiền. Nếu bạn không muốn bán các loại tài sản của mình đi để sinh sống thì nguồn quan trọng nhất để tạo thu nhập cho bạn sau khi không làm việc nữa vẫn là các nguồn thu nhập thụ động. Thời điểm bạn đạt tự do tài chính ở mức độ cao nhất là lúc bạn ngưng làm việc mà vẫn có thể sống ở mức như mong muốn. Đây là thời điểm bạn có tổng thu nhập từ các nguồn thu nhập thụ động ngang bằng với số tiền bạn cần có để sống cuộc sống như mong muốn mà không cần tiếp tục làm việc. Ví dụ bạn cần 20 triệu đồng để sống cuộc sống như mong muốn trong một tháng. Bạn sẽ đạt tự do tài chính khi tổng thu nhập thụ động của bạn đạt 20 triệu đồng/tháng (hoặc hơn!).
Ở đâu có những nguồn thu nhập thụ động này?
Nguồn thu nhập thụ động này do chính bạn tạo ra, xây dựng và duy trì suốt trong quá trình bạn còn làm việc. Một số nguồn có thể tạo ra thu nhập thụ động:
- Xây dựng một doanh nghiệp cho riêng mình, sau đó tạo ra một hệ thống vận hành tự động bằng cách giao lại cho người khác mà không cần phải tham gia vào điều hành trực tiếp. Như vậy, bạn vẫn nhận được thu nhập thụ động từ hoạt động sinh lợi nhuận của doanh nghiệp này.
- Cho thuê tài sản như: căn hộ, đất đai, nhà cửa, xe cộ, sân bãi, nhà xưởng, kho…
- Kinh doanh nhỏ như: đại lý điện thoại, bưu điện, shop quần áo, nhà thuốc tây, quán cà phê, máy bán hàng tự động... Bạn chỉ cần gầy dựng và kiếm người coi sóc thì bạn vẫn có nguồn thu nhập thụ động.
- Cổ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi… Từ những cái này, hàng năm bạn có được những khoản cổ tức, hoặc những khoản tiền lãi được trả.
- Sở hữu những bản quyền trí tuệ như sách, băng đĩa, bằng phát minh sáng chế được đưa vào ứng dụng…, bạn sẽ được giữ phần trăm trên doanh số hoặc lợi nhuận từ những sản phẩm bán ra dựa trên thỏa thuận của bạn với nhà đầu tư.
- Ngoài ra, trong khoảng thập niên 90 trở lại đây xuất hiện ngành kinh doanh đa cấp – một loại hình cũng có thể giúp bạn tạo ra được những nguồn thu nhập thụ động. Nó tương tự như hình thức bạn tham gia kinh doanh để xây dựng cho mình một doanh nghiệp, nhưng bạn không cần phải bỏ vốn liếng bằng tiền bạc, mà bạn chỉ cần bỏ thời gian, công sức và học hỏi liên tục để có thể xây dựng cho mình một hệ thống các nhà phân phối và hệ thống tiêu thụ bên dưới mình, chính hệ thống này là kênh tiêu thụ sản phẩm mà bạn kinh doanh. Hệ thống của bạn càng lớn mạnh thì nguồn tiền hoa hồng của bạn càng cao; và dần dần, công việc của bạn sẽ ít hẳn đi, bạn không còn đi bán sản phẩm, không còn đi tuyển dụng người, không cần kinh doanh nữa mà bạn vẫn có nguồn thu nhập từ hệ thống này.
Thông thường, người ta lập cho mình một kế hoạch để tạo ra nguồn thu nhập thụ động. Ví dụ: Năm 24 tuổi: mở một cửa hàng bán quần áo và giao lại cho người khác trông coi. Năm 24-26 tuổi: mở một quán cà phê cho người khác trông coi, và tham gia kinh doanh đa cấp. Năm 26-30 tuổi: viết một cuốn sách để có thể tạo nguồn thu nhập thụ động từ phần trăm của tiền bản quyền kinh doanh sách. Một người có thể lập ra cho mình nhiều nguồn thu nhập thụ động khác nhau mà ở đây chúng tôi gọi là những nẻo đường tạo thu nhập thụ động.
Những nẻo đường tạo thu nhập thụ động
Để tạo thu nhập tự động, trước tiên, bạn phải xác định đâu là khả năng, sở trường, ý thích, đam mê của mình để tạo ra những nguồn mang lại thu nhập thụ động phù hợp.
Nếu bạn có khả năng đồng thời yêu thích công việc viết lách, bạn có thể viết một cuốn sách. Nguyễn Ngọc Tư hay vài cây bút trẻ ngày nay có những cuốn sách được tái bản rất nhiều lần. Nếu với mỗi đầu sách, họ được hưởng 10.000 đồng tiền bản quyền thì với 5.000 bản sách in ra, họ sẽ có trong tay 50 triệu đồng tiền tác quyền. Nếu cuốn sách của bạn liên tục được tái bản thì nguồn thu nhập thụ động thu được từ quyền sở hữu tác phẩm là không nhỏ. Thế nhưng nếu khả năng viết của bạn bị hạn chế mà bù lại, bạn có nhiều ý tưởng, lúc này bạn có thể nhờ người viết thuê cuốn sách do bạn đứng tên tác giả. Đây là cách thức khá phổ biến ở nước ngoài để một người có thể tạo cho mình những nguồn thu nhập thụ động.
Nếu bạn có năng khiếu kinh doanh, bạn có thể mở các cửa hàng, shop hoặc một công ty. Với các cửa hàng được lập ra, ngoài các chi phí cố định, mỗi tháng bạn sẽ có đều đặn 5-7 triệu đồng thu được từ lợi nhuận kinh doanh. Nếu mục tiêu thu nhập thụ động của bạn là 20 triệu đồng/tháng như ví dụ ở trên - bạn có thể tạo ra 3 hoặc 4 nguồn thu nhập thụ động cho mình để đạt tự do tài chính. Một cách khác khá phổ biến đó là tích lũy tiền mua một căn hộ và cho thuê hay mở công ty rồi sau đó giao cho người khác quản lý, bạn chỉ là người nắm quyền chủ sở hữu. Lợi nhuận hằng năm của công ty này một phần sẽ nằm trong khối thu nhập thụ động của bạn.
Tham gia kinh doanh đa cấp cũng là một cách để có nguồn thu nhập thụ động. Khi bạn tạo dựng được một hệ thống, hoa hồng thu về mỗi tháng khoảng 50 triệu, bạn dành ra 20 triệu để đầu tư xây dựng và mở rộng hệ thống thì mỗi tháng, bạn có trong tay 30 triệu. Khi hệ thống bạn lập ra càng lớn, số tiền hoa hồng thu về hàng tháng sẽ càng nhiều và bản thân bạn sẽ ít phải làm việc hơn. Mục tiêu đạt tự do tài chính của bạn chỉ là vấn đề thời gian mà thôi!
Như vậy, để đạt tự do tài chính, trước tiên bạn cần xác định mục tiêu tổng thu nhập thụ động mà bạn cần có để đạt tự do tài chính và sau đó đi tìm những nguồn thu nhập thụ động, gầy dựng nó theo kế hoạch thời gian. Cứ như vậy, bạn sẽ đạt tự do tài chính. Vấn đề quan trọng ở đây là bạn nên bắt đầu từ sớm. Bạn có mục tiêu đạt tự do tài chính càng sớm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Điều cốt yếu bạn cần nắm là con đường đạt tự do tài chính không giới hạn với bất kì ai, bất kể giàu nghèo, nhiều hay ít tài năng. Cái bạn cần làm là tạo ra các nguồn mang lại thu nhập thụ động. Tất cả nhờ vào sự khôn ngoan và kiên trì của bạn mà thôi!
Theo Power UP Group
Tuesday, April 6, 2010
21 nguyên tắc của các triệu phú “tay trắng làm nên”

21 nguyên tắc của các triệu phú “tay trắng làm nên”
Bằng cách nghiên cứu các hành vi ứng xử của hàng ngàn triệu phú giàu lên nhờ vào chính bản thân mình, Brian Tracy - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành của Brian Tracy International, một công ty chuyên về đào tạo và phát triển cá nhân và các tổ chức, đã đúc rút được 21 phẩm chất làm nên thành công của họ. Bản thân Brian Tracy đã từng tư vấn cho hơn 1.000 công ty và hơn bốn triệu người ở Mỹ, Canada và 40 nước khác trên thế giới. Những nguyên tắc mà Tracy đưa ra có thể đã trở nên quá hiển nhiên đối với nhiều người, nhưng đó là những nguyên tắc bất hủ và phải luôn được đề cao. Khi áp dụng các nguyên tắc này, các doanh nhân có thể tạo ra những thay đổi lớn trong suy nghĩ, hành động, thói quen, thu nhập và lối sống của mình…
1. Nuôi dưỡng những ước mơ lớn. Hãy hình dung, tưởng tượng và tạo ra một bức tranh, một viễn cảnh đầy niềm vui, bình yên và giàu có.
2. Vạch ra một hướng đi rõ ràng. Hãy tìm hiểu, khám phá xem mình muốn đi về đâu, khi nào đường đi sẽ gặp gập ghềnh, trở ngại. Đây chính là cơ sở của việc xây dựng các mục tiêu.
3. Xem bản thân như một người tuyển dụng chính mình. Càng làm chủ tương lai của mình, người ta càng có khả năng tạo ra các ảnh hưởng cho nghề nghiệp và cuộc sống. Không nên trông chờ vào những ý tưởng hay những đề xuất từ sếp hay tổ chức tuyển dụng mình. Khi suy nghĩ độc lập, chúng ta sẽ thấy mình đang bước đi trên một con đường rất thú vị.
4. Làm những điều mà mình yêu thích. Hãy khám phá niềm đam mê, sở thích của mình, suy nghĩ theo những cách sáng tạo để biến niềm đam mê đó thành một phương cách kiếm tiền và theo đuổi nó.
5. Hướng đến sự hoàn hảo. Hãy nghĩ rằng chúng ta sinh ra là để làm những điều xuất sắc nhất và lấy việc hướng đến sự hoàn hảo làm niềm vui.
6. Không cần làm việc nhiều thời gian hơn và cật lực hơn, mà làm việc thông minh hơn. Hãy tổ chức công việc một cách khoa học sao cho có thể làm được nhiều việc hơn trong một thời gian ngắn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong công việc.
7. Không ngừng học hỏi. Đây là điều rất cần thiết đảm bảo cho sự thành công và khả năng làm giàu. Tất cả những người thành công đều có chung đặc điểm này.
8. Tự thưởng cho mình trước. Đây là nguyên tắc tích lũy sự giàu có mà tất cả mọi người đều có thể áp dụng và nên áp dụng.
9. Tìm hiểu tất cả các khía cạnh của công việc kinh doanh. Hãy phấn đấu để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực mà mình đã chọn.
10. Tận tâm với việc phục vụ người khác. Đây chính là bí quyết được giữ kín nhất và là khởi đầu cho sự giàu có của những triệu phú “tay trắng làm nên”. Nguyên tắc này đã được chứng minh qua thời gian.
11. Tuyệt đối thành thật với bản thân và những người khác. Tính trung thực, liêm chính là một phẩm chất quan trọng hàng đầu.
12. Đặt ra các thứ tự ưu tiên trong công việc và chỉ nên tập trung từng việc một. Sự tập trung là chìa khóa để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc.
13. Xây dựng uy tín về tốc độ và sự tin cậy. Hãy tạo ra cho mình một ưu thế so với các đối thủ khác trên mọi phương diện.
14. Sẵn sàng đi từ đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Hãy tìm hiểu các chu kỳ, các xu hướng và điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp.
15. Có ý thức kỷ luật cao với bản thân trong mọi vấn đề. Hãy phát huy phẩm chất quan trọng nhất này để đạt được sự thành công về mặt tài chính và trong cuộc sống cá nhân.
16. Đánh thức khả năng sáng tạo của bản thân. Sự sáng tạo sẽ giúp chúng ta tăng khả năng giải quyết vấn đề, vượt qua các khó khăn, trở ngại.
17. Làm bạn với những người tốt, người giỏi. Nên giao lưu với những người chiến thắng để học hỏi họ.
18. Quan tâm đặc biệt đến sức khỏe bản thân. Phải có ý thức cao trong việc tạo cho mình một thể trạng sung mãn và có sức khỏe tốt để đón nhận cuộc sống đầy cơ hội và thách thức.
19. Kiên định và chú trọng đến hành động. Trong mỗi giai đoạn phát triển, mỗi công việc, hãy xác định những bước hành động quan trọng nhất mà mình có thể thực hiện tức thời rồi kiên định, quyết tâm với việc làm đó.
20. Không bao giờ xem thất bại là một sự lựa chọn. Hãy vượt qua nỗi sợ thất bại. Hầu hết các nỗi sợ hãi đều hình thành từ sự tưởng tượng và từ những kinh nghiệm trong quá khứ.
21. Thử tính kiên trì. Hãy học cách nhẫn nại vượt qua khó khăn, đứng lên từ thất bại và không bao giờ có ý nghĩ bỏ cuộc.
Hồng Hà theo Best Management
Trang Doanh nhân trẻ, Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần số 208, ra ngày 27/7/2007
Wednesday, March 31, 2010
Không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản
Không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản
Theo nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010”, Việt Nam không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản.
>>Chính sách tiền tệ có làm cho giá cả tăng?
Tại Hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010” do CTCP Đào tạo & Phát triển nhân lực – PTI tổ chức vào ngày 30/03/2010, hai diễn giả gồm chuyên gia tài chính cao cấp Bùi Kiến Thành và chuyên gia kinh tế cao cấp, TS. Lê Đăng Doanh đã có những giải đáp đối với những thắc mắc của các doanh nhân.
Theo nhận định của hai chuyên gia này, hiện nay Việt Nam không thiếu ngoại tệ, tuy nhiên vấn đề cốt lõi là làm sao tạo dựng được sự tin tưởng của người dân để số ngoại tệ nhàn rỗi trong dân có thể được đầu tư vào nền kinh tế. Các chuyên gia cũng chỉ ra đâu là kênh đầu tư an toàn nhất trong thời điểm hiện nay. InfoTV lược ghi.
*Theo các ông, tầm ảnh hưởng của việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) là như thế nào? Dự báo trong năm 2010 mức dự trữ bắt buộc đối với các NHTM có tăng lên hay không?
TS. Lê Đăng Doanh: Mức dự trữ bắt buộc đối với các NHTM đã được NHNN nâng lên khá cao kể từ đầu năm 2009 sau đó lại giảm dự trữ bắt buộc để nới rộng chính sách tín dụng, bởi vì dự trữ bắt buộc cao thì chi phí của NHTM sẽ càng cao.
Đến một thời điểm nào đó, rất có thể NHNN thấy chính sách tiền tệ và tín dụng đã trở nên nới lỏng quá họ có thể sẽ sử dụng biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc tăng tỷ lệ chiết khấu; giảm lãi suất tiền gửi của NHTM vào NHNN... Bằng tất cả các biện pháp đó, NHNN có thể sẽ hạn chế hoạt động tín dụng của NHTM và sẽ điều tiết được nguồn tín dụng.
Hiện nay NHNN vẫn đang sử dụng các công cụ hành chính, tuy nhiên tôi cho rằng các công cụ hành chính đó chỉ có tác dụng trong một giới hạn và phần nhiều mang tính hình thức. Chẳng hạn như việc quy định lãi suất trần trong huy động và cho vay vốn nhưng các NHTM vẫn lách luật bằng việc áp dụng các chiêu khuyến mãi trong huy động vốn hoặc bắt doanh nghiệp vay vốn phải chịu các loại phí khác nhau. Vì vậy, quy định về lãi suất trần của NHNN về cơ bản đã không được các NHTM tuân thủ từ trước khi có Thông tư 07 cho phép các ngân hàng và doanh nghiệp được áp dụng lãi suất thỏa thuận.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Bản chất của ngân hàng là đi huy động vốn trong nhân dân, dùng tiền đó để cho người khác vay. Vì vậy NHNN mới quy định rằng số tiền huy động được gọi là tổng tài sản của ngân hàng đó sẽ có một tỷ lệ nhất định phải đóng cho NHNN, gọi là dự trữ bắt buộc. Nếu dự trữ bắt buộc được tăng cao hơn thì NHTM sẽ có ít tiền hơn để cho vay, do đó khi nói đến việc tăng dự trữ bắt buộc có nghĩa là giảm bớt năng lực cho vay của ngân hàng.
Câu hỏi liệu năm 2010 các NHTM có phải tăng dự trữ bắt buộc hay không sẽ tùy thuộc vào việc NHNN đánh giá lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế như thế nào, liệu đã đạt mức có thể gây lạm phát hay chưa. Có thể đến một thời điểm nào đó, khi hội tụ đủ các yếu tố cần thiết NHNN sẽ tăng hoặc giảm dự trữ bắt buộc đối với các NHTM.
*Hiện nay vẫn có một lượng lớn ngoại tệ nhàn rỗi nằm trong dân, trong khi NHNN lại cần tăng lượng dự trữ loại tài sản này. Theo các ông, NHNN làm thế nào để tăng dự trữ ngoại tệ mà không làm ảnh hưởng đến thanh khoản của đồng USD và huy động được lượng USD còn nằm trong dân?
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Nếu huy động được lượng USD đang được cất giữ trong dân, chúng ta sẽ có thêm khoảng 20 tỷ USD lưu thông trên thị trường. Vấn đề ở đây là làm sao để tạo được niềm tin của người dân đối với chính sách tỷ giá và giá trị của đồng nội tệ.
Ngoài ra, chúng ta cần phải giảm bớt việc nhập siêu như hiện nay, cần phải xem xét lại việc nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ phẩm không cần thiết, trong khi phải đánh đổi hàng triệu tấn gạo của người nông dân mới có thể mang về đồng ngoại tệ cho đất nước.
Bên cạnh đó, kênh huy động kiều hối cũng được xem là kênh quan trọng giúp làm tăng lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải tạo được niềm tin trong nhân dân để đưa 20 tỷ USD và 500 tấn vàng còn đang nằm trong túi của người dân vào lưu thông sẽ giúp tăng lượng dự trữ ngoại hối. Tôi cho rằng hiện nay chúng ta không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản về ngoại tệ mà thôi.
TS. Lê Đăng Doanh: Biện pháp trước mắt theo tôi là phải tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Để có được một lượng dự trữ ngoại hối lớn, các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đều phải trở thành những nước xuất siêu. Chừng nào Việt Nam còn nhập siêu thì rất khó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại tệ so với hiện nay.
Đối với việc nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, tôi cho rằng Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp mà WTO cho phép như đánh thuế cao hơn nữa. Ngoài ra, chúng ta cần phải giữ được mức tăng trưởng ổn định và không làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng.
Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất theo tôi là cần tạo được niềm tin đối với người dân. Tôi đồng ý với quan điểm rằng Việt Nam không phải là nước thiếu ngoại tệ mà là nước thiếu thanh khoản ngoại tệ. Chỉ cần NHNN có được tỷ giá thích hợp và giữ được giá trị đồng nội tệ ổn định thì người dân sẽ không còn lo cất giữ vàng hay ngoại tệ, khi đó mối lo về dự trữ ngoại hối sẽ được giảm bớt đáng kể.
Nên “xem giỏ mà bỏ thóc”!
*Trong tình hình lãi suất cao và biến động liên tục như như hiện nay, doanh nghiệp sẽ phải đối phó như thế nào để có thể vượt qua những thách thức đó?
TS. Lê Đăng Doanh: Lãi suất cao sẽ làm tăng mạnh chi phí đầu vào đối với các doanh nghiệp, muốn tránh gặp phải điều này thì doanh nghiệp sẽ buộc phải huy động vốn theo cách khác. Các doanh nghiệp nên tránh gặp phải những biến động về tỷ giá cũng như những biến động về chính sách. Tôi biết điều này là vô cùng khó khăn với các doanh nghiệp bởi rất khó để chúng ta có thể đoán định được chính sách. Chẳng hạn như hồi cuối tháng 11 năm ngoái, chỉ sau 2 ngày công bố sẽ giữ nguyên tỷ giá VND/USD nhưng NHNN lại lại đột ngột tăng tỷ giá lên 5,33% khiến các doanh nghiệp không kịp trở tay.
Tôi cho rằng cách tốt nhất để giúp các doanh nghiệp đó là NHNN nên có một lộ trình, định hướng cụ thể về những hành động của mình để ít nhất doanh nghiệp cũng có thể dự báo được mức biến động có thể xảy ra. Còn trong điều kiện như hiện nay, các doanh nghiệp cần thận trọng trong việc huy động vốn và đầu tư. Cách tốt nhất là “xem giỏ mà bỏ thóc”.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Là doanh nghiệp sản xuất nên khi thấy lãi suất tăng cao như vậy thì cần phải tính toán kỹ lưỡng. Với mức lãi suất như hiện nay, doanh nghiệp chỉ có thể cân nhắc giữa hai con đường: hoạt động cầm chừng hoặc đóng cửa tạm ngưng sản xuất.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể thông qua các hiệp hội ngành nghề để có những kiến nghị, đề xuất và nêu bật những khó khăn của mình với các nhà hoạch định chính sách.
*Trong những kênh đầu tư phổ biến hiện nay là chứng khoán, bất động sản và gửi tiết kiệm, theo các ông, kênh đầu tư nào hấp dẫn hơn cả?
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Đối với thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư cần phải nhìn nhận viễn cảnh kinh tế trong thời gian tới sẽ ra sao. Thị trường chứng khoán là nơi phản ánh rõ nét nhất sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả sẽ kéo theo giá cổ phiếu tăng lên và ngược lại, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả sẽ kéo giá cổ phiếu giảm theo.
Nhìn vào viễn cảnh kinh tế năm 2010, trong điều kiện lãi suất đang tăng cao như hiện nay, mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp cũng có thể coi là mức độ rủi ro đối với thị trường chứng khoán.
Đối với lĩnh vực bất động sản, nếu theo dõi thị trường này trong khu vực nói chung có thể thấy rõ hiện tượng bong bóng đang hình thành. Hiện nay đã có những dự báo về sự suy giảm của thị trường bất động sản Trung Quốc với mức suy giảm có thể lên tới 40%. Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chiếm đến 51% về giao dịch bất động sản của Việt Nam, cũng đã xuất hiện tình trạng cung vượt cầu. Tất nhiên, không phải thị trường nào cũng giống như nhau và bản thân thị trường bất động sản cũng đã tự phân chia ra thành nhiều phân khúc.
Trong điều kiện hiện nay, nếu muốn bảo đảm số tài sản của mình thì có lẽ kênh đầu tư an toàn nhất vẫn là gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Lời khuyên của tôi cho các nhà đầu tư vẫn là nên làm những gì chúng ta biết chứ đừng làm những gì mà chúng ta không rõ.
TS. Lê Đăng Doanh: Đối với lĩnh vực bất động sản, nhà đầu tư nên chọn một thị trường nào đó còn tiềm ẩn nhiều tiềm năng phát triển hoặc một mảng thị trường nào đó có mức độ an toàn nhiều hơn.
Còn về thị trường chứng khoán, tôi lưu ý với các nhà đầu tư rằng thị trường chứng khoán của chúng ta còn rất xa so với các chuẩn mực quốc tế. Vì thiếu thông tin hoặc thông tin kiểu “tù mù” nên hành vi mang tính “bầy đàn” còn khá phổ biến.
InfoTV
(ghi)
Theo nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010”, Việt Nam không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản.
>>Chính sách tiền tệ có làm cho giá cả tăng?
Tại Hội thảo “Nhìn lại kinh tế năm 2009 và dự báo kinh tế năm 2010” do CTCP Đào tạo & Phát triển nhân lực – PTI tổ chức vào ngày 30/03/2010, hai diễn giả gồm chuyên gia tài chính cao cấp Bùi Kiến Thành và chuyên gia kinh tế cao cấp, TS. Lê Đăng Doanh đã có những giải đáp đối với những thắc mắc của các doanh nhân.
Theo nhận định của hai chuyên gia này, hiện nay Việt Nam không thiếu ngoại tệ, tuy nhiên vấn đề cốt lõi là làm sao tạo dựng được sự tin tưởng của người dân để số ngoại tệ nhàn rỗi trong dân có thể được đầu tư vào nền kinh tế. Các chuyên gia cũng chỉ ra đâu là kênh đầu tư an toàn nhất trong thời điểm hiện nay. InfoTV lược ghi.
*Theo các ông, tầm ảnh hưởng của việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) là như thế nào? Dự báo trong năm 2010 mức dự trữ bắt buộc đối với các NHTM có tăng lên hay không?
TS. Lê Đăng Doanh: Mức dự trữ bắt buộc đối với các NHTM đã được NHNN nâng lên khá cao kể từ đầu năm 2009 sau đó lại giảm dự trữ bắt buộc để nới rộng chính sách tín dụng, bởi vì dự trữ bắt buộc cao thì chi phí của NHTM sẽ càng cao.
Đến một thời điểm nào đó, rất có thể NHNN thấy chính sách tiền tệ và tín dụng đã trở nên nới lỏng quá họ có thể sẽ sử dụng biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc tăng tỷ lệ chiết khấu; giảm lãi suất tiền gửi của NHTM vào NHNN... Bằng tất cả các biện pháp đó, NHNN có thể sẽ hạn chế hoạt động tín dụng của NHTM và sẽ điều tiết được nguồn tín dụng.
Hiện nay NHNN vẫn đang sử dụng các công cụ hành chính, tuy nhiên tôi cho rằng các công cụ hành chính đó chỉ có tác dụng trong một giới hạn và phần nhiều mang tính hình thức. Chẳng hạn như việc quy định lãi suất trần trong huy động và cho vay vốn nhưng các NHTM vẫn lách luật bằng việc áp dụng các chiêu khuyến mãi trong huy động vốn hoặc bắt doanh nghiệp vay vốn phải chịu các loại phí khác nhau. Vì vậy, quy định về lãi suất trần của NHNN về cơ bản đã không được các NHTM tuân thủ từ trước khi có Thông tư 07 cho phép các ngân hàng và doanh nghiệp được áp dụng lãi suất thỏa thuận.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Bản chất của ngân hàng là đi huy động vốn trong nhân dân, dùng tiền đó để cho người khác vay. Vì vậy NHNN mới quy định rằng số tiền huy động được gọi là tổng tài sản của ngân hàng đó sẽ có một tỷ lệ nhất định phải đóng cho NHNN, gọi là dự trữ bắt buộc. Nếu dự trữ bắt buộc được tăng cao hơn thì NHTM sẽ có ít tiền hơn để cho vay, do đó khi nói đến việc tăng dự trữ bắt buộc có nghĩa là giảm bớt năng lực cho vay của ngân hàng.
Câu hỏi liệu năm 2010 các NHTM có phải tăng dự trữ bắt buộc hay không sẽ tùy thuộc vào việc NHNN đánh giá lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế như thế nào, liệu đã đạt mức có thể gây lạm phát hay chưa. Có thể đến một thời điểm nào đó, khi hội tụ đủ các yếu tố cần thiết NHNN sẽ tăng hoặc giảm dự trữ bắt buộc đối với các NHTM.
*Hiện nay vẫn có một lượng lớn ngoại tệ nhàn rỗi nằm trong dân, trong khi NHNN lại cần tăng lượng dự trữ loại tài sản này. Theo các ông, NHNN làm thế nào để tăng dự trữ ngoại tệ mà không làm ảnh hưởng đến thanh khoản của đồng USD và huy động được lượng USD còn nằm trong dân?
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Nếu huy động được lượng USD đang được cất giữ trong dân, chúng ta sẽ có thêm khoảng 20 tỷ USD lưu thông trên thị trường. Vấn đề ở đây là làm sao để tạo được niềm tin của người dân đối với chính sách tỷ giá và giá trị của đồng nội tệ.
Ngoài ra, chúng ta cần phải giảm bớt việc nhập siêu như hiện nay, cần phải xem xét lại việc nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ phẩm không cần thiết, trong khi phải đánh đổi hàng triệu tấn gạo của người nông dân mới có thể mang về đồng ngoại tệ cho đất nước.
Bên cạnh đó, kênh huy động kiều hối cũng được xem là kênh quan trọng giúp làm tăng lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải tạo được niềm tin trong nhân dân để đưa 20 tỷ USD và 500 tấn vàng còn đang nằm trong túi của người dân vào lưu thông sẽ giúp tăng lượng dự trữ ngoại hối. Tôi cho rằng hiện nay chúng ta không thiếu ngoại tệ mà chỉ thiếu thanh khoản về ngoại tệ mà thôi.
TS. Lê Đăng Doanh: Biện pháp trước mắt theo tôi là phải tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Để có được một lượng dự trữ ngoại hối lớn, các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đều phải trở thành những nước xuất siêu. Chừng nào Việt Nam còn nhập siêu thì rất khó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại tệ so với hiện nay.
Đối với việc nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, tôi cho rằng Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp mà WTO cho phép như đánh thuế cao hơn nữa. Ngoài ra, chúng ta cần phải giữ được mức tăng trưởng ổn định và không làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng.
Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất theo tôi là cần tạo được niềm tin đối với người dân. Tôi đồng ý với quan điểm rằng Việt Nam không phải là nước thiếu ngoại tệ mà là nước thiếu thanh khoản ngoại tệ. Chỉ cần NHNN có được tỷ giá thích hợp và giữ được giá trị đồng nội tệ ổn định thì người dân sẽ không còn lo cất giữ vàng hay ngoại tệ, khi đó mối lo về dự trữ ngoại hối sẽ được giảm bớt đáng kể.
Nên “xem giỏ mà bỏ thóc”!
*Trong tình hình lãi suất cao và biến động liên tục như như hiện nay, doanh nghiệp sẽ phải đối phó như thế nào để có thể vượt qua những thách thức đó?
TS. Lê Đăng Doanh: Lãi suất cao sẽ làm tăng mạnh chi phí đầu vào đối với các doanh nghiệp, muốn tránh gặp phải điều này thì doanh nghiệp sẽ buộc phải huy động vốn theo cách khác. Các doanh nghiệp nên tránh gặp phải những biến động về tỷ giá cũng như những biến động về chính sách. Tôi biết điều này là vô cùng khó khăn với các doanh nghiệp bởi rất khó để chúng ta có thể đoán định được chính sách. Chẳng hạn như hồi cuối tháng 11 năm ngoái, chỉ sau 2 ngày công bố sẽ giữ nguyên tỷ giá VND/USD nhưng NHNN lại lại đột ngột tăng tỷ giá lên 5,33% khiến các doanh nghiệp không kịp trở tay.
Tôi cho rằng cách tốt nhất để giúp các doanh nghiệp đó là NHNN nên có một lộ trình, định hướng cụ thể về những hành động của mình để ít nhất doanh nghiệp cũng có thể dự báo được mức biến động có thể xảy ra. Còn trong điều kiện như hiện nay, các doanh nghiệp cần thận trọng trong việc huy động vốn và đầu tư. Cách tốt nhất là “xem giỏ mà bỏ thóc”.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Là doanh nghiệp sản xuất nên khi thấy lãi suất tăng cao như vậy thì cần phải tính toán kỹ lưỡng. Với mức lãi suất như hiện nay, doanh nghiệp chỉ có thể cân nhắc giữa hai con đường: hoạt động cầm chừng hoặc đóng cửa tạm ngưng sản xuất.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể thông qua các hiệp hội ngành nghề để có những kiến nghị, đề xuất và nêu bật những khó khăn của mình với các nhà hoạch định chính sách.
*Trong những kênh đầu tư phổ biến hiện nay là chứng khoán, bất động sản và gửi tiết kiệm, theo các ông, kênh đầu tư nào hấp dẫn hơn cả?
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Đối với thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư cần phải nhìn nhận viễn cảnh kinh tế trong thời gian tới sẽ ra sao. Thị trường chứng khoán là nơi phản ánh rõ nét nhất sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả sẽ kéo theo giá cổ phiếu tăng lên và ngược lại, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả sẽ kéo giá cổ phiếu giảm theo.
Nhìn vào viễn cảnh kinh tế năm 2010, trong điều kiện lãi suất đang tăng cao như hiện nay, mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp cũng có thể coi là mức độ rủi ro đối với thị trường chứng khoán.
Đối với lĩnh vực bất động sản, nếu theo dõi thị trường này trong khu vực nói chung có thể thấy rõ hiện tượng bong bóng đang hình thành. Hiện nay đã có những dự báo về sự suy giảm của thị trường bất động sản Trung Quốc với mức suy giảm có thể lên tới 40%. Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chiếm đến 51% về giao dịch bất động sản của Việt Nam, cũng đã xuất hiện tình trạng cung vượt cầu. Tất nhiên, không phải thị trường nào cũng giống như nhau và bản thân thị trường bất động sản cũng đã tự phân chia ra thành nhiều phân khúc.
Trong điều kiện hiện nay, nếu muốn bảo đảm số tài sản của mình thì có lẽ kênh đầu tư an toàn nhất vẫn là gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Lời khuyên của tôi cho các nhà đầu tư vẫn là nên làm những gì chúng ta biết chứ đừng làm những gì mà chúng ta không rõ.
TS. Lê Đăng Doanh: Đối với lĩnh vực bất động sản, nhà đầu tư nên chọn một thị trường nào đó còn tiềm ẩn nhiều tiềm năng phát triển hoặc một mảng thị trường nào đó có mức độ an toàn nhiều hơn.
Còn về thị trường chứng khoán, tôi lưu ý với các nhà đầu tư rằng thị trường chứng khoán của chúng ta còn rất xa so với các chuẩn mực quốc tế. Vì thiếu thông tin hoặc thông tin kiểu “tù mù” nên hành vi mang tính “bầy đàn” còn khá phổ biến.
InfoTV
(ghi)
Thursday, March 25, 2010
Friday, March 19, 2010
Warren Buffett - Con đường dẫn đến sự giàu có
Warren Buffett - Con đường dẫn đến sự giàu có
Warren Edward Bufett, nhà đầu tư giá trị huyền thoại, đã biến một xưởng dệt đang ốm yếu trở thành một cỗ máy tài chính đầy sức mạnh mà sau này trở thành công ty cổ phần thành công nhất thế giới. Được mệnh danh là “nhà tiên tri của Omaha” bởi sự tinh thông trong đầu tư của ông, Bufett đã tích lũy được một lượng của cải cá nhân hơn 62 tỷ đôla, đưa ông trở thành một trong những người dẫn đầu danh sách tỷ phú năm 2008 do tạp chí Forbe bình chọn. Ông đã tạo động lực cho rất nhiều tín đồ trung thành hàng năm đến Omaha để có cơ hội nghe ông nói chuyện tại cuộc họp thường niên ở Beckshire, một sự kiện được gán cho danh hiệu một cách hài hước là "lễ hội âm nhạc của chủ nghĩa tư bản - "Woodstock of Capitalism".
Thời trai trẻ
Buffett ra đời vào ngày 30 tháng 8 năm 1930 tại Omaha, Nebraska, là người con thứ hai trong ba chị em và là con trai một của Howard và Leila Buffett,. Cha ông là người môi giới chứng khoán và đã từng là đại biểu quốc hội Mỹ cả bốn nhiệm kỳ. Howard tham gia các nhiệm kỳ không liên tục vào danh sách ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, nhưng ông lại theo quan điểm tự do chủ nghĩa.
Kiếm tiền là một sở thích có từ rất sớm của Buffett, ông bán nước giải khát và có một chặng đường suôn sẻ. Mới 14 tuổi ông đã đầu tư những thứ kiếm được từ những nỗ lực này vào 40 mẫu đất, sau đó cho thuê lấy lãi. Bị cha thúc giục, ông nộp đơn xin vào học tại đại học Pennsylvania và đã được chấp nhận. Không thấy ấn tượng, Buffett đã rời trường đại học Pennsylvania sau hai năm và chuyển sang đại học Nebraska. Sau khi tốt nghiệp, cha ông một lần nữa thuyết phục về giá trị của việc học, và động viên ông theo đuổi học vị. Harvard đã từ chối Buffett nhưng Colombia thì nhận ông. Buffett học tập dưới sự hướng dẫn của Benjamin Graham, cha đẻ của thuyết đầu tư giá trị, và thời gian ở Colombia đã mang lại cho ông một giai đoạn sự nghiệp huyền thoại mặc dầu nó được khởi sự muộn. (Hãy đọc đầu tư giá trị trong cuốn “3 Nguyên tắc đầu tư bất tận nhất và Phương thức đầu tư của Warrent Buffet là gì?” - “The 3 Most Timeless Investment Principles and What Is Warren Buffett’s Investing Style?”.)
Sau khi tốt nghiệp, Graham đã từ chối thuê Buffett, thậm chí gợi ý ông không nên làm việc ở phố Wall. Cha của Buffett đồng ý với Graham, và thế là Buffett trở lại Omaha làm việc tại công ty chứng khoán của cha mình. Ông đã cưới Susan Thompson và họ bắt đầu cuộc sống gia đình. Một thời gian ngắn sau đó Graham thay đổi quan điểm và đề nghị Buffet đến làm việc ở New York.
Nền tảng của giá trị
Khi ở New York, Buffett có cơ hội xây dựng dựa trên những lý thuyết về đầu tư mà ông đã học được từ Graham ở Colombia. Đầu tư giá trị, theo Graham nghĩa là liên quan đến việc tìm kiếm cổ phần được bán hạ giá khác thường dưới mức giá trị tài sản, và ông gọi đó là “giá trị nội tại”. Buffett đã tiếp thu tinh hoa nhưng đã có sự quan tâm đến việc phát huy nó lên một bước xa hơn nữa. Không giống Graham, ông còn muốn xem xét cả bên ngoài những con số và tập trung vào đội ngũ quản lý của công ty cũng như lợi thế cạnh tranh của sản phẩm công ty trên thị trường. (Để biết thêm về “Giá trị nội tại – intrinsic value” xem “ Phân tích cơ bản: Đó là gì? - Fundamental Analysis: What is it?”).
Năm 1956, ông trở lại Omaha, mở công ty Buffett Associates và đã mua một căn nhà. Năm 1962, ở tuổi 30, ông đã là một triệu phú khi ông đã hợp lực với Charlie Munger. Sự cộng tác của họ cuối cùng đã có kết quả trong sự phát triển một triết lý đầu tư dựa vào quan điểm của Buffett về tìm kiếm ở đầu tư giá trị như một cái gì đó còn hơn là cố gắng moi móc vài đồng đôla cuối cùng của những thương vụ đang hấp hối.
Với triết lý đó, họ đã mua Berkshire Hathaway, một xưởng dệt đang sắp đóng cửa. Bắt đầu bằng việc vận dụng thuyết giá trị cổ điển của Braham để sau đó khi việc kinh doanh hé mở những tín hiệu hồi sinh thì nó trở thành những khoản đầu tư chiến lược dài hạn. Nguồn vốn sinh ra từ việc kinh doanh dệt may được sử dụng để thực hiện những khoản đầu tư khác. Cuối cùng chính cổ phần từ thương vụ ban đầu lại bị những khoản cổ phần khác làm cho lu mờ. Năm 1985, Buffett ngừng kinh doanh dệt may nhưng ông vẫn tiếp tục giữ tên công ty đó. Triết lý đầu tư của Buffett dựa trên nguyên tắc chỉ mua cổ phẩn của những công ty mà ông tin chắc rằng chúng được quản lý tốt và đang bị đánh giá thấp hơn giá trị của nó. Khi mua chứng khoán, ông có xu hướng nắm giữ chúng dường như vô thời hạn. Tất cả những công ty như Coca Cola, American Express và Gillette đều đáp ứng những tiêu chí của ông và được giữ lại trong danh mục đầu tư của Berkshire Hathaway trong nhiều năm. Trong nhiều trường hợp ông mua lại toàn bộ công ty nhưng vẫn để ban lãnh đạo công ty tiếp tục điều hành công việc kinh doanh hàng ngày. Một vài hãng nổi tiếng thuộc thể loại này trong đó có See’ Candies, Fruit of the Loom, Dairy Queen, The Pampered Chef và GEICO Auto Insurance.
Bí quyết của Buffett vẫn còn giữ nguyên vẹn đến khi cổ phiếu trong lĩnh vực công nghệ trở nên phổ biến. Thuộc tuýp người kiên định không thích công nghệ mới, Buffett đứng ngoài cuộc chơi những cổ phiếu ngành công nghệ suốt cuối thập niên 90. Giữ vững lập trường và khước từ đầu tư vào những công ty không đảm bảo niềm tin để ông ủy thác, Buffett đã nhận được sự coi thường của những chuyên gia phố Wall và bị nhiều người tẩy chay như một người đã hết thời. Dầu hiệu suy nhược trong lĩnh vực công nghệ xuất hiện khi hàng loạt vụ nổ bong bóng trong lĩnh vực kinh doanh mạng đã làm trắng tay nhiều chuyên gia đó. Còn lợi nhuận của Buffett khì tăng gấp đôi. (Để xem những sự kiện này hãy đọc The Greatest Market Craches, Sorting Out Cult Stock and Beavioral Finance: Herd Behavior).
Cuộc sống riêng
Mặc dù có tài sản tính bằng tiền tỷ nhưng Warren Buffett nổi tiếng thanh đạm. Ông vẫn sống trong căn hộ 5 phòng được mua năm 1958 với giá 31,000 đô la., uống Coca Cola và ăn tối ở những nhà hàng trong vùng nơi có những chiếc Hamburger hay món thịt quay ông ưa thích. Trong thời gian dài ông né tránh ý tưởng mua phi cơ riêng. Cuối cùng thì ông cũng có một chiếc và ông đặt tên nó là “Indefensible – Không thể cưỡng nổi” – thể hiện sự tự phê bình một cách công khai về việc bỏ tiền ra mua chiếc phi cơ đó. (Hãy đọc cuốn Downshift To Simplify Your Life and Save Money The Scottish Way nếu bạn muốn tìm hiểu xem tiết kiệm thế nào để bạn có thể tiết kiệm được những khoản tiền lớn.)
Ông chung sống với Susan Thomson hơn 50 năm kể từ đám cưới năm 1952. Họ có ba người con Susie, Howard và Peter. Buffett và Susan ly thân năm 1977 nhưng vẫn duy trì hôn nhân đến khi bà qua đời năm 2004. Trước khi qua đời, Susan đã làm mối cho ông với Astrid Menks, một người hầu bàn. Buffett và Menks bắt đầu chung sống từ năm 1978 và sau đó chính thức cưới nhau vào tháng 8 năm 2006.
Tài sản thừa kế
Bạn sẽ sử dụng đồng tiền thế nào nếu bạn là nhà đầu tư thành công nhất thế giới? Nếu là Warren Buffett bạn sẽ đem cho đi. Buffett làm sửng sốt cả thế giới khi vào tháng 6 năm 2006 ông thông báo phần lớn tài sản của ông được góp vào quỹ từ thiện Bill & Melida Gates, nơi tập trung vào các vấn đề về sức khỏe nhân loại, hệ thống thư viện nước Mỹ và các trường học trên toàn thế giới. Nó là một quỹ từ thiện trong sáng nhất thế giới. (Hãy tìm hiểu người quyên góp thánh thiện nhất ở phố Wall trong cuốn The Saints Of Wall Street.)
Những khoản từ thiện sẽ được góp bằng cổ phiếu loại B của Berkshire Hathaway. Tổng giá trị quyên góp vào quỹ Gates là 10 triệu cổ phiếu. Nó được trích từ 5% tiền lãi chỉ đến khi Buffett chết hoặc khi quỹ không còn tuân theo những qui định sử dụng tiền hay những qui định mà Bill và Melinda Gates duy trì một cách tích cực cho những hoạt động của quỹ. Khoản từ thiện mà Buffett góp năm 2006 là 500,000 cổ phiếu với trị giá gần tới 1.5 tỷ đô la.
Tính theo giá trị cổ phiếu tháng 6 năm 2008, toàn bộ khoản từ thiện đã được góp vào quỹ Gates có giá trị vào khoảng 37 tỷ đô la. Buffett đánh giá giá trị cổ phần đó sẽ tiếp tục tăng thêm qua thời gian. Một khoản từ thiện bằng cổ phần khác sẽ được chia đều cho ba quỹ do những người con của Buffett điều hành. Thêm một khoản một triệu cổ phiếu sẽ chuyển đến một quỹ được thành lập để tỏ lòng kính trọng người vợ quá cố của ông.
Trong khi quỹ từ thiện Gates đã hẳn là một bất ngờ lớn, thì những nỗ lực từ thiện của Buffett chẳng có gì mới. Ông vẫn đang cống hiến tiền của trong suốt bốn năm qua cho quỹ Buffett, sau này được đổi tên là Susan Thomson Buffett. Quỹ này hỗ trợ quyền tự lựa chọn của người phụ nữ có kế hoạch hành động nhằm giảm bớt việc gia tăng sinh đẻ trong gia đình.
Buffett luôn vạch kế hoạch để dành phần lớn tài sản của mình làm từ thiện sau khi chết. Tinh hoa giá trị trong tâm hồn Buffett là: lý trí, quyết đoán, độc lập chính trị và nó vẫn đang chiếu sáng suốt đường đời của ông. Câu nói nổi tiếng của ông chính là: “Tôi biết những gì tôi làm, và điều đó tạo nên ý nghĩa để tiếp tục.”
Kết luận
Tương lai chứng kiến Buffett vẫn tiếp tục không ngừng quyên góp tiền làm từ thiện. Nói về vấn đề này, ông cho biết: “Tôi không phải là người say mê được giầu có như vua, đặc biệt khi mà sự lựa chọn là sáu tỷ người trên thế giới đang phải làm vật lộn với những công việc nghèo khó hơn nhiều trong cuộc sống còn chúng ta lại đang có cơ hội kiếm lợi từ đồng tiền.” (Theo thống kê của BBC ngày 26 tháng 6 năm 2006 thì Buffett đã quyên góp được 37 tỷ đô la làm từ thiện.)
Trương Sơn dịch từ Investopedia
Warren Edward Bufett, nhà đầu tư giá trị huyền thoại, đã biến một xưởng dệt đang ốm yếu trở thành một cỗ máy tài chính đầy sức mạnh mà sau này trở thành công ty cổ phần thành công nhất thế giới. Được mệnh danh là “nhà tiên tri của Omaha” bởi sự tinh thông trong đầu tư của ông, Bufett đã tích lũy được một lượng của cải cá nhân hơn 62 tỷ đôla, đưa ông trở thành một trong những người dẫn đầu danh sách tỷ phú năm 2008 do tạp chí Forbe bình chọn. Ông đã tạo động lực cho rất nhiều tín đồ trung thành hàng năm đến Omaha để có cơ hội nghe ông nói chuyện tại cuộc họp thường niên ở Beckshire, một sự kiện được gán cho danh hiệu một cách hài hước là "lễ hội âm nhạc của chủ nghĩa tư bản - "Woodstock of Capitalism".
Thời trai trẻ
Buffett ra đời vào ngày 30 tháng 8 năm 1930 tại Omaha, Nebraska, là người con thứ hai trong ba chị em và là con trai một của Howard và Leila Buffett,. Cha ông là người môi giới chứng khoán và đã từng là đại biểu quốc hội Mỹ cả bốn nhiệm kỳ. Howard tham gia các nhiệm kỳ không liên tục vào danh sách ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, nhưng ông lại theo quan điểm tự do chủ nghĩa.
Kiếm tiền là một sở thích có từ rất sớm của Buffett, ông bán nước giải khát và có một chặng đường suôn sẻ. Mới 14 tuổi ông đã đầu tư những thứ kiếm được từ những nỗ lực này vào 40 mẫu đất, sau đó cho thuê lấy lãi. Bị cha thúc giục, ông nộp đơn xin vào học tại đại học Pennsylvania và đã được chấp nhận. Không thấy ấn tượng, Buffett đã rời trường đại học Pennsylvania sau hai năm và chuyển sang đại học Nebraska. Sau khi tốt nghiệp, cha ông một lần nữa thuyết phục về giá trị của việc học, và động viên ông theo đuổi học vị. Harvard đã từ chối Buffett nhưng Colombia thì nhận ông. Buffett học tập dưới sự hướng dẫn của Benjamin Graham, cha đẻ của thuyết đầu tư giá trị, và thời gian ở Colombia đã mang lại cho ông một giai đoạn sự nghiệp huyền thoại mặc dầu nó được khởi sự muộn. (Hãy đọc đầu tư giá trị trong cuốn “3 Nguyên tắc đầu tư bất tận nhất và Phương thức đầu tư của Warrent Buffet là gì?” - “The 3 Most Timeless Investment Principles and What Is Warren Buffett’s Investing Style?”.)
Sau khi tốt nghiệp, Graham đã từ chối thuê Buffett, thậm chí gợi ý ông không nên làm việc ở phố Wall. Cha của Buffett đồng ý với Graham, và thế là Buffett trở lại Omaha làm việc tại công ty chứng khoán của cha mình. Ông đã cưới Susan Thompson và họ bắt đầu cuộc sống gia đình. Một thời gian ngắn sau đó Graham thay đổi quan điểm và đề nghị Buffet đến làm việc ở New York.
Nền tảng của giá trị
Khi ở New York, Buffett có cơ hội xây dựng dựa trên những lý thuyết về đầu tư mà ông đã học được từ Graham ở Colombia. Đầu tư giá trị, theo Graham nghĩa là liên quan đến việc tìm kiếm cổ phần được bán hạ giá khác thường dưới mức giá trị tài sản, và ông gọi đó là “giá trị nội tại”. Buffett đã tiếp thu tinh hoa nhưng đã có sự quan tâm đến việc phát huy nó lên một bước xa hơn nữa. Không giống Graham, ông còn muốn xem xét cả bên ngoài những con số và tập trung vào đội ngũ quản lý của công ty cũng như lợi thế cạnh tranh của sản phẩm công ty trên thị trường. (Để biết thêm về “Giá trị nội tại – intrinsic value” xem “ Phân tích cơ bản: Đó là gì? - Fundamental Analysis: What is it?”).
Năm 1956, ông trở lại Omaha, mở công ty Buffett Associates và đã mua một căn nhà. Năm 1962, ở tuổi 30, ông đã là một triệu phú khi ông đã hợp lực với Charlie Munger. Sự cộng tác của họ cuối cùng đã có kết quả trong sự phát triển một triết lý đầu tư dựa vào quan điểm của Buffett về tìm kiếm ở đầu tư giá trị như một cái gì đó còn hơn là cố gắng moi móc vài đồng đôla cuối cùng của những thương vụ đang hấp hối.
Với triết lý đó, họ đã mua Berkshire Hathaway, một xưởng dệt đang sắp đóng cửa. Bắt đầu bằng việc vận dụng thuyết giá trị cổ điển của Braham để sau đó khi việc kinh doanh hé mở những tín hiệu hồi sinh thì nó trở thành những khoản đầu tư chiến lược dài hạn. Nguồn vốn sinh ra từ việc kinh doanh dệt may được sử dụng để thực hiện những khoản đầu tư khác. Cuối cùng chính cổ phần từ thương vụ ban đầu lại bị những khoản cổ phần khác làm cho lu mờ. Năm 1985, Buffett ngừng kinh doanh dệt may nhưng ông vẫn tiếp tục giữ tên công ty đó. Triết lý đầu tư của Buffett dựa trên nguyên tắc chỉ mua cổ phẩn của những công ty mà ông tin chắc rằng chúng được quản lý tốt và đang bị đánh giá thấp hơn giá trị của nó. Khi mua chứng khoán, ông có xu hướng nắm giữ chúng dường như vô thời hạn. Tất cả những công ty như Coca Cola, American Express và Gillette đều đáp ứng những tiêu chí của ông và được giữ lại trong danh mục đầu tư của Berkshire Hathaway trong nhiều năm. Trong nhiều trường hợp ông mua lại toàn bộ công ty nhưng vẫn để ban lãnh đạo công ty tiếp tục điều hành công việc kinh doanh hàng ngày. Một vài hãng nổi tiếng thuộc thể loại này trong đó có See’ Candies, Fruit of the Loom, Dairy Queen, The Pampered Chef và GEICO Auto Insurance.
Bí quyết của Buffett vẫn còn giữ nguyên vẹn đến khi cổ phiếu trong lĩnh vực công nghệ trở nên phổ biến. Thuộc tuýp người kiên định không thích công nghệ mới, Buffett đứng ngoài cuộc chơi những cổ phiếu ngành công nghệ suốt cuối thập niên 90. Giữ vững lập trường và khước từ đầu tư vào những công ty không đảm bảo niềm tin để ông ủy thác, Buffett đã nhận được sự coi thường của những chuyên gia phố Wall và bị nhiều người tẩy chay như một người đã hết thời. Dầu hiệu suy nhược trong lĩnh vực công nghệ xuất hiện khi hàng loạt vụ nổ bong bóng trong lĩnh vực kinh doanh mạng đã làm trắng tay nhiều chuyên gia đó. Còn lợi nhuận của Buffett khì tăng gấp đôi. (Để xem những sự kiện này hãy đọc The Greatest Market Craches, Sorting Out Cult Stock and Beavioral Finance: Herd Behavior).
Cuộc sống riêng
Mặc dù có tài sản tính bằng tiền tỷ nhưng Warren Buffett nổi tiếng thanh đạm. Ông vẫn sống trong căn hộ 5 phòng được mua năm 1958 với giá 31,000 đô la., uống Coca Cola và ăn tối ở những nhà hàng trong vùng nơi có những chiếc Hamburger hay món thịt quay ông ưa thích. Trong thời gian dài ông né tránh ý tưởng mua phi cơ riêng. Cuối cùng thì ông cũng có một chiếc và ông đặt tên nó là “Indefensible – Không thể cưỡng nổi” – thể hiện sự tự phê bình một cách công khai về việc bỏ tiền ra mua chiếc phi cơ đó. (Hãy đọc cuốn Downshift To Simplify Your Life and Save Money The Scottish Way nếu bạn muốn tìm hiểu xem tiết kiệm thế nào để bạn có thể tiết kiệm được những khoản tiền lớn.)
Ông chung sống với Susan Thomson hơn 50 năm kể từ đám cưới năm 1952. Họ có ba người con Susie, Howard và Peter. Buffett và Susan ly thân năm 1977 nhưng vẫn duy trì hôn nhân đến khi bà qua đời năm 2004. Trước khi qua đời, Susan đã làm mối cho ông với Astrid Menks, một người hầu bàn. Buffett và Menks bắt đầu chung sống từ năm 1978 và sau đó chính thức cưới nhau vào tháng 8 năm 2006.
Tài sản thừa kế
Bạn sẽ sử dụng đồng tiền thế nào nếu bạn là nhà đầu tư thành công nhất thế giới? Nếu là Warren Buffett bạn sẽ đem cho đi. Buffett làm sửng sốt cả thế giới khi vào tháng 6 năm 2006 ông thông báo phần lớn tài sản của ông được góp vào quỹ từ thiện Bill & Melida Gates, nơi tập trung vào các vấn đề về sức khỏe nhân loại, hệ thống thư viện nước Mỹ và các trường học trên toàn thế giới. Nó là một quỹ từ thiện trong sáng nhất thế giới. (Hãy tìm hiểu người quyên góp thánh thiện nhất ở phố Wall trong cuốn The Saints Of Wall Street.)
Những khoản từ thiện sẽ được góp bằng cổ phiếu loại B của Berkshire Hathaway. Tổng giá trị quyên góp vào quỹ Gates là 10 triệu cổ phiếu. Nó được trích từ 5% tiền lãi chỉ đến khi Buffett chết hoặc khi quỹ không còn tuân theo những qui định sử dụng tiền hay những qui định mà Bill và Melinda Gates duy trì một cách tích cực cho những hoạt động của quỹ. Khoản từ thiện mà Buffett góp năm 2006 là 500,000 cổ phiếu với trị giá gần tới 1.5 tỷ đô la.
Tính theo giá trị cổ phiếu tháng 6 năm 2008, toàn bộ khoản từ thiện đã được góp vào quỹ Gates có giá trị vào khoảng 37 tỷ đô la. Buffett đánh giá giá trị cổ phần đó sẽ tiếp tục tăng thêm qua thời gian. Một khoản từ thiện bằng cổ phần khác sẽ được chia đều cho ba quỹ do những người con của Buffett điều hành. Thêm một khoản một triệu cổ phiếu sẽ chuyển đến một quỹ được thành lập để tỏ lòng kính trọng người vợ quá cố của ông.
Trong khi quỹ từ thiện Gates đã hẳn là một bất ngờ lớn, thì những nỗ lực từ thiện của Buffett chẳng có gì mới. Ông vẫn đang cống hiến tiền của trong suốt bốn năm qua cho quỹ Buffett, sau này được đổi tên là Susan Thomson Buffett. Quỹ này hỗ trợ quyền tự lựa chọn của người phụ nữ có kế hoạch hành động nhằm giảm bớt việc gia tăng sinh đẻ trong gia đình.
Buffett luôn vạch kế hoạch để dành phần lớn tài sản của mình làm từ thiện sau khi chết. Tinh hoa giá trị trong tâm hồn Buffett là: lý trí, quyết đoán, độc lập chính trị và nó vẫn đang chiếu sáng suốt đường đời của ông. Câu nói nổi tiếng của ông chính là: “Tôi biết những gì tôi làm, và điều đó tạo nên ý nghĩa để tiếp tục.”
Kết luận
Tương lai chứng kiến Buffett vẫn tiếp tục không ngừng quyên góp tiền làm từ thiện. Nói về vấn đề này, ông cho biết: “Tôi không phải là người say mê được giầu có như vua, đặc biệt khi mà sự lựa chọn là sáu tỷ người trên thế giới đang phải làm vật lộn với những công việc nghèo khó hơn nhiều trong cuộc sống còn chúng ta lại đang có cơ hội kiếm lợi từ đồng tiền.” (Theo thống kê của BBC ngày 26 tháng 6 năm 2006 thì Buffett đã quyên góp được 37 tỷ đô la làm từ thiện.)
Trương Sơn dịch từ Investopedia
Subscribe to:
Posts (Atom)